Fish inventory and fishing practices in Candaba swamp, Philippines: their implication to fishermen’s income
Bảng thống kê và tập quán đánh bắt cá ở đầm lầy Candaba, Philippines: ý nghĩa của chúng đối với thu nhập của ngư dân
Alfred R. Mallari, Jacqueline V. Bagunu
Tóm tắt
This study generally aimed to make an inventory of fishes in Candaba Swamp and documented the fishing practices of the local fishermen as they are related to their income. The study documented 14 different species of fishes, each representing 14 families in the Barangays of San Agustin and Dukma Paralaya. The fourteen species were the Elopshawaiensis, Glossobiusgiurus, Megalops cyprinoides,Cyprinuscarpio, Trichopodus pectoralis, Clariasbatrachus, Hypostomus plecostomus, Arius dispar, Hypophthalmichthys molitrix, Anabas testudineus, Carassiuscarasius, Labeorohita, Hypophthalmichthysnobilis, Oreochromis niloticus. The Inventory recorded the Tilapia,Common Carp and Hito species as the most dominant species in Candaba Swamp. Fishermen’s ages were between 20 to 89, most of them were between 50-59, used the “panti” (kitig) as fishing gear and with daily income ranging from 100 pesos to 1,500 pesos. The total income of the fisherman during the wet season is from 1,000 pesos to 10,000 pesos, and the daily expenses in each fishing trip is from 20 pesos to 100 pesos which is mostly used for gasoline. The fishermen’s income depended on the number of fishes they catch which was affected by changes in season. The Cost-Benefit-Analysis showed a net income Of P281.27 per day with a Return of Investment of 174.4%
Từ khóa: Fish inventory; fishing practices; fishing gear; “Panti”.
ABSTRACT
Nghiên cứu này nhằm mục đích tạo ra một kho cá ở đầm lầy Candaba và ghi lại các hoạt động đánh bắt của ngư dân địa phương vì chúng có liên quan đến thu nhập của họ. Nghiên cứu đã ghi nhận 14 loài cá khác nhau, mỗi loài đại diện cho 14 họ ở Barangays của San Agustin và Dukma Paralaya. Mười bốn loài là Elopshawaiensis, Glossobiusgiurus, Megalops cyprinoides, Cyprinuscarpio, Trichopodus pectoralis, Clariasbatrachus, Hypostomus plecostomus, Arius dispar, Hypophthalmichthys molitrix, Anabas testudineus, Carassiuscarasius, Labeorohita, Hypophthalmichthysnobilis, Oreochromis niloticus. Bảng thống kê đã ghi nhận các loài cá rô phi, cá chép và cá Hito là những loài chiếm ưu thế nhất ở đầm lầy Candaba. Độ tuổi của ngư dân là từ 20 đến 89, hầu hết trong số họ là từ 50-59, đã sử dụng các “panti” (kitig) làm ngư cụ và thu nhập hàng ngày từ 100 peso đến 1.500 peso. Tổng thu nhập của ngư dân trong mùa mưa là từ 1.000 peso đến 10.000 peso và chi phí hàng ngày trong mỗi chuyến đi câu là từ 20 peso đến 100 pê sô, chủ yếu được sử dụng cho xăng dầu. Thu nhập của ngư dân phụ thuộc vào số lượng cá mà họ đánh bắt bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong mùa. Phân tích lợi ích chi phí cho thấy thu nhập ròng P281,27 mỗi ngày với tỷ lệ hoàn vốn đầu tư là 174,4%
Keyword: Bảng thống kê cá; Thực hành câu cá; ngư cụ; “Panti”.

Bài viết khác